Thứ Năm, ngày 28 tháng 8 năm 2008

BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

BÀI V: BẢO ĐẢM PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÍ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC


I. KHÁI NIỆM, YÊU CẦU ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC ĐẢM BẢO PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC.

1. Khái niệm
- Pháp chế XHCN là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, xã hội. trong đó, tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa có nội dung là sự triệt để tôn trọng pháp luật của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, là phương thức thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Pháp chế XHCN là một khái niệm rộng bao gồm các mặt: là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước XHCN, là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể quần chúng, là nguyên tắc xử xự của công dân và nó có liên hệ mật thiết với dân chủ XHCN.
- Bảo đảm pháp chế XHCN là tổng thể các biện pháp, phương tiện, tổ chức pháp lý do các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân áp dụng nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước và các tổ chức ấy cũng như việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của công dân.
- Việc bảo đảm pháp chế có ý nghĩa to lớn đối với quản lý nhà nước nói chung, quản lý hành chính nhà nước nói riêng nếu:
+ Pháp chế được đảm bảo thông qua đường lối chính trị của Đảng cầm quyền.
+ Pháp chế được đảm bảo thông qua các biện pháp xã hội và đạo đức.
+ Pháp chế được đảm bảo thông qua chế độ kinh tế của xã hội.
+ Pháp chế được đảm bảo thông qua các yếu tố pháp lý như thể chế pháp lý, chế định pháp lý, công cụ pháp lý và các biện pháp pháp lý.
2. Các yêu cầu đối với việc đảm bảo pháp chế
- Hoạt động của các cơ quan Nhà nước phải phù hợp với mục đích, nội dung và yêu cầu của văn bản quy phạm pháp luật. Nếu vi phạm sẽ dẫn đến hoạt động tuỳ tiện, không thống nhất, chủ quan duy ý chí của các chủ thể có thẩm quyền...
- Các cơ quan Nhà nước chỉ được hoạt động trong phạm vi thẩm quyền do pháp luật qui định, không được tiến hành các hoạt động vượt quá hay thu hẹp giới hạn thẩm quyền của mình.
- Khi thực hiện hoạt động quản lý nhà nước, cơ quan Nhà nước thường ban hành các văn bản quản lý Nhà nước mang tính quyền lực Nhà nước để quyết định những vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của cơ quan đó.
+ Các văn bản này phải có nội dung hình thức phù hợp với quy định của pháp luật.
+ Chỉ hết hiệu lực khi bị thay thế, hủy bỏ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
- Các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật Nhà nước phải dựa trên các nguyên tắc sau
+ Nguyên tắc pháp luật hóa Các hoạt động được thực hiện bởi cơ quan chuyên hay không chuyên trách nhằm duy trì và bảo vệ trật tự pháp luật, như hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát...
+ Là cơ sở để chủ thể thực hiện quyền chủ động khi tham gia đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật Nhà nước.
+ Là cơ sở buộc các đối tượng có hành vi xâm phạm pháp chế mà kỷ luật nhà nước không được cản trở hay trốn tránh trách nhiệm khi bị áp dụng các biện pháp trách nhiệm mà Nhà nước đã qui định.
- Nguyên tắc thường xuyên
+ Hoạt động quản lý luôn diễn ra liên tục, làm phát sinh các quan hệ pháp luật cụ thể và có thể xâm hại đến quyền và lợi ích của đối tượng quản lý do những hành vi trái pháp luật và vô kỷ luật của chủ thể quản lý.
+ Nếu không thường xuyên sẽ là nguyên nhân dẫn đến sự phá vỡ trật tự quản lý.
- Nguyên tắc công khai mà hiệu quả, có như vậy mới thu hút được đông đảo các chủ thể tham gia, bảo vệ và kiểm soát việc thi hành pháp luật. Nếu không sẽ làm giảm hiệu quả của việc đảm bảo pháp luật được tôn trọng và kỷ luật được tăng cường.
- Nguyên tắc quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước.
+ Đảm bảo nguyên tắc này mới tạo điều kiện cho các cơ quan Nhà nước kiểm soát lẫn nhau trong quá trình thực hiện hoạt động chấp hành – điều hành.
+ Có nghĩa quan trọng trong quá trình tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, trong việc duy trì trật tự pháp luật Nhà nước xây dựng và bảo vệ.

II. CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1. Hoạt động giám sát của cơ quan quyền lực Nhà nước
- Thông qua hoạt động giám sát, cơ quan quyền lực sẽ phát hiện những yếu kém về mặt tổ chức, lệch lạc trong nhận thức, hành động, phát hiện những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích Nhà nước... để từ đó có biện pháp khắc phục, xử lý thích đáng.
- Cơ quan quyền lực có điều kiện kiểm nghiệm về tính hợp lý, hợp pháp của các qui định cũng như các biện pháp quản lý của mình. Để từ đó từng bước nâng cao hiệu quả của quản lý.
a. Hoạt động giám sát của Quốc hội
- Điều 83 – Hiến pháp năm 1992 ngoài chức năng lập hiến, lập pháp, Quốc hội còn “Thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”.
- Hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nghe báo cáo của Chính phủ, các Bộ, thông qua hoạt động giám sát thường xuyên của các tổ đại biểu hoặc các đại biểu đối với hoạt động của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước.
- Quyền giám sát của Quốc hội đối với quản lý hành chính Nhà nước có phạm vi rất lớn, thể hiện rõ tính quyền lực Nhà nước thành lập, bãi bỏ các cơ quan, các chức danh của bộ máy hành chính Nhà nước... và cả trong hoạt động cụ thể của bộ máy hành chính Nhà nước.
Ví dụ Điều 84 – Hiến pháp 1992 Chỉ có Quốc hội mới có quyền bãi bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trái với Hiến pháp, luật và Nghị quyết của Quốc hội.
b. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
- Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của uỷ ban nhân dân và các cơ quan quản lý chuyên môn ở địa phương. Hội ĐỒNG NHÂN DÂN giám sát bằng cách nghe báo cáo, đánh giá báo cáo của Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân có quyền bãi miễn các chức danh của các cơ quan hành chính địa phương. Có quyền bãi bỏ quyết định sai trái của Ủy ban nhân dân cùng cấp.
- Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước nhưng hoạt động của nó mang tính đặc thù của chính quyền địa phương chấp hành hiến pháp, pháp luât, pháp lệnh. Hội đồng nhân dân nằm dứơi sự kiểm tra hướng dẫn của pháp luật
2. Hoạt động kiểm tra của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước .
Hoạt động kiểm tra của các cơ quan hành chính và cán bộ có thẩm quyền mang tính quyền lực Nhà nước, tính quyền lực thể hiện ở chỗ
- Bên kiểm tra có quyền tiến hành hoạt động một cách đơn phương, chỉ tuân theo pháp luật, không cần sự đồng ý của bên kia.
- Bên kiểm tra có quyền yêu cầu đối tượng bị kiểm tra cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc kiểm tra, bên bị kiểm tra phải chấp hành theo các yêu cầu đó.
- Bên kiểm tra có quyền ra chỉ thị về phương hướng, thời hạn và biện pháp sửa sai sót phát hiện được trong quá trình kiểm tra.
a. Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền chung.
- Phạm vi kiểm tra Tất cả mọi lĩnh vực của quản lý hành chính Nhà nước. Đây là hoạt động của Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp đối với đối tượng quản lý thuộc thẩm quyền.
- Hình thức kiểm tra nghe, xem xét, đánh giá báo cáo của đối tượng quản lý để kiểm tra chung, hoặc thông qua thanh tra Nhà nước, thanh tra Bộ, sở.
- Khi kiểm tra, cơ quan kiểm tra có quyền ra quyết định kỷ luật cán bộ, cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc. Có quyền đình chỉ, bãi bỏ quyết định trái pháp luật.
b. Hoạt động kiểm tra chức năng và kiểm tra nội bộ
- Cơ quan quản lý ngành kiểm tra việc chấp hành pháp luật, đường lối chính sách trong phạm vi ngành, lĩnh vực mình quản lý.
- Nếu có tranh chấp giữa cơ quan kiểm tra và đối tượng bị kiểm tra thì đối tượng bị kiểm tra có quyền kiến nghị với cấp có thẩm quyền nhưng vẫn phải chấp hành quyết định của cơ quan kiểm tra.

- Kiểm tra nội bộ làhoạt động kiểm tra được tiến hành trong nội bộ cơ quan tổ chức bởi thủ trưởng cơ quan, tổ chức, dưới nhiều hình thức khen thưởng, đình chỉ vi phạm kỷ luật ...
c. Hoạt động thanh tra Nhà nước
- Hệ thống cơ quan thanh tra Nhà nước, gồm thanh tra nhà nước, thanh tra tỉnh, thành phố, thanh tra quận, huyện, thị xã...
- Cơ quan thanh tra Nhà nước một mặt trực thuộc cơ quan thanh tra Nhà nước cấp trên, một mặt trực thuộc cơ quan quản lý trực tiếp.
- Riêng thanh tra Nhà nước là cơ quan của Chính hủ có chức năng quản lý Nhà nước về công tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra trong cả nước.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức thanh tra. (Điều 8 – 9 pháp luật thanh tra 1/4/1990).
+ Xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo.
+ Chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra đối với cơ quan, tổ chức hữu quan.
+ Tuyên truyền, hướng dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra.
+ Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền những vấn đề về quản lý Nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các qui định phù hợp với yêu cầu quản lý Nhà nước. Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đó, các cơ quan thanh tra Nhà nước có quyền
+ Yêu cầu cơ quan đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho việc thanh tra, yêu cầu cơ quan đơn vị hữu quan cử người tham gia hoạt động thanh tra.
+ Trưng cầu giám định.
+ Yêu cầu đối tượng bị thanh tra cung cấp tài liệu, báo cáo bằng văn bản, trả lời những chất vấn của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên, khi cần thiết tiến hành kiểm kê tài sản.
+ Quyết định niêm phong tài liệu, kê biên tài sản, khi có căn cứ để nhận định có vi phạm pháp luật, ra quyết định yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tạm giữ tiền, đồ vật, giấy phép được cấp hoặc sử dụng trái pháp luật khi xét thấy cần ngăn chặn vi phạm pháp luật hoặc để xác minh tình tiết làm chứng cứ cho việc kết luận, xử lý.
+ Đình chỉ việc làm xét thấy đang hoặc sẽ gây tác hại đến lợi ích, của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.
+ Tạm đình chỉ việc thi hành quyết định kỷ luật, thuyên chuyển công tác người đang cộng tác với tổ chức thanh tra hoặc đang là đối tượng thanh tra. Nếu xét thấy việc thi hành quyết định gây trở ngại cho công tác thanh tra.
+ Cảnh cáo, tạm đình chỉ công tác nhân viên Nhà nước cố ý cản trở thanh tra hoặc không thực hiện yêu cầu kiến nghị, quyết định của tổ chức thanh tra hoặc thanh tra viên.
+ Kết luận, kiến nghị hoặc quyết định xử lý theo quy định của pháp luật.
+ Chuyển hồ sơ về vi phạm pháp luật sang cơ quan điều tra hình sự có thẩm quyền giải quyết, nếu xét thấy có dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Tóm lại, hoạt động thanh tra có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo thực thi pháp luật của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức và cá nhân trong quá trình quản lý hành chính Nhà nước. Hoạt động thanh tra góp phần phát hiện ra các vi phạm pháp luật và ngăn chặn vi phạm pháp luật, góp phần củng cố hoạt động của bộ máy Nhà nước, đội ngũ viên chức Nhà nước.
-> Cho nên trong công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước, việc đổi mới tổ chức và oạt động thanh tra là rất cần thiết.
d. Kiểm toán Nhà nước một hình thức kiểm tra đặc biệt với hoạt động hành chính Nhà nước.
- Nhiệm vụ kiểm toán Nhà nước là xây dựng kế hoạch kiểm toán hàng năm, cung cấp kết quả kiểm toán cho chính phủ, xác nhận, đánh giá, nhận xét các tài liệu, số liệu kế toán...
- Kiểm toán Nhà nước có quyền yêu cầu đơ vị được kiểm toán và các đơn vị có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết để thưc hiện nhiệm vụ kiểm toán.

3. Hoạt động kiểm sát của viện kiểm sát nhân dân
- Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong các văn bản do các Bộ, cơ quan ngan Bộ, cơ quan thuộc chính phủ,... ban hành. Đồng thời kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong hành vi của các nhân viên Nhà nước.
- Viện kiểm sát là cơ quan giám sát đối với hoạt động của các cơ quan hành chính từ Bộ trở xuống.
+Viện kiểm sát không được can thiệp vào hoạt động điều hành của các cơ quan hành chính Nhà nước. Không được sửa đổi, bãi bỏ quyết định của đối tượng bị kiểm sát.
+ Viện kiểm sát có quyền kiến nghị, kháng nghị về tình không phù hợp của quyết định đó.
4. Hoạt động của toà án nhân dân trong việc đảm bảo pháp chế và kỷ luật Nhà nước.
a. Toà án nhân dân góp phần đảm bảo pháp chế và kỷ luật Nhà nước thông qua hoạt động xét xử các vụ án, hình sự, dân sự lao động, hông nhân gia đình, kinh tế.
- Trong quá trình xét xử vụ án hình sự, tòa án kiểm tra tính hợp pháp của các quyết định, giấy tờ có liên quan. Nếu co sai thì có biện pháp khắc phục, xử lý đúng pháp luật.
- Trong các vụ án dân sự, lao động Toà án sẽ xem xét tính hợp pháp của từng quyết định, từng văn bản cụ thể.
Việc xét xử giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật, Toà án không chỉ xử lý nghiêm minh người vi phạm mà còn góp phần đảm bảo pháp chế và kỷ luật Nhà nước.
b. Toà án nhân dân góp phần bảo đảm pháp chế và kỷ luật Nhà nước thông qua tài phán hành chính.
- Tòa án hành chính xét xử các hành vi hành chính và quyết định hành chính bị khiếu kiện.
- Quá xét xử tòa án trực tiếp kiểm tra, giám sát và có thể xử lý đối với hoạt động của hành chính Nhà nước -> có giá trị tích cực trong việc bảo đảm pháp chế và kỷ luật Nhà nước.
5. Hoạt động kiểm tra Đảng, kiểm tra giám sát của các tổ chức xã hội và công dân.
a. Kiểm tra Đảng
- Kiểm tra Đảng là chức năng không thể tách rời quyền lãnh đạo của Đảng, vì Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn diện, mọi mặt hoạt động của Nhà nước Việt Nam.
- Hình thức kiểm tra thông qua việc nghe đảng viên lãnh đạo cơ quan Nhà nước tương ứng báo cáo, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết của Đảng trong các đảng viên.
- Cơ quan Đảng kiểm tra việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhưng được đình chỉ sửa đổi, bãi bỏ quyết định không hợp pháp của cơ quan Nhà nước.
- Lãnh đạo cơ quan quản lý phải tạo mọi điều kiện thuận lợi phối hợp với cơ quan Đảng trong quá trình kiểm tra.

b. Kiểm tra, giám sát của tổ chức xã hội
- Kiểm tra xã hội là việc nhân dân lao động tham gia vào quản lý Nhà nước, quản lý xã hội thông qua hoạt động kiểm tra của các tổ chức xã hội đối với cơ quan Nhà nước, cán bộ Nhà nước trong việc thực hiện pháp luật.
- Giám sát, kiểm tra xã hội được thực hiện bởi nhân dân, không gắ nvới việc thực hiện quyền lực Nhà nước, không mang tính cưỡng chế Nhà nước.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra nhân dân
+ Giám sát việc tuân theo pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước các cấp đối với cá nhân, tổ chức trong phạm vi địa phương mình.
+ Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của Ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn.
+ Kiến nghị với Ủy ban nhân dân cấp xã, thủ trưởng cơ quan mà mình kiểm tra khi phát hiện thấy dấu hiệu vi phạm pháp luật và giám sát kiến nghị.
- Kiến nghị Ủy ban nhân dân, thủ trưởng cơ quan đơn vị khen thưởng, xử lý đơn vị, cá nhân có thành tích hoặc có vi phạm.
- Phối hợp với thanh tra Nhà nước khi thanh tra ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.
c. Hoạt động khiếu nại, tố cáo của công dân
- Đây là hình thức đặc biệt quan trọng để nhân dân lao động tham gia vào quản lý Nhà nước, quản lý xã hội.
- Tại điều 1 - Pháp luật khiếu nại , tố cáo của công dân ngày 2/5/1991 khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về quyết định và việc làm trái pháp luật thuộc phạm vi quản lý hành chính của cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước xâm phạm quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình” và “ tố cáo với cơ quan Nhà nước, tổ chức kiểm tra, tổ chức xã hội...”.
- Những biện pháp đảm bảo pháp lý đối với người khiếu nại, tố cáo.
+ Mọi công dân đều có quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ quyền, lợi ích của mình, của người khác, tập thể, Nhà nước, không bị hạn chế bất cứ điều kiện nào.
+ Người khiếu nại tố cáo được đảm bảo tránh mọi sự đe dọa hay trả thù.
+ Người khiếu nại, tố cáo không phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu đó là sự thật. Ngược lại, phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước..

Không có nhận xét nào: